
|
Ăn trầu là phong tục
cổ truyền của người Việt. Tương truyền có từ thời Hùng Vương
và gắn liền với một câu chuyện cổ tích nổi tiếng: Chuyện
Trầu Cau. Với người Việt Nam, trầu cau là biểu hiện của phong cách, vừa là thể hiện tình cảm dân tộc độc đáo. Miếng
trầu là đầu
câu chuyện. Với thôn dân Việt Nam, miếng trầu thắm têm vôi
nồng cùng cau bổ tám bổ tư , vỏ chay rể quạch luôn là sự bắt
đầu, sự khơi mở tình cảm. Miếng trầu làm người với người gần
gũi, cởi mở với nhau hơn. Và với các nam nữ thanh niên xưa
thì nó là cội nguồn để bắt đầu tình yêu, bắt đầu câu hát, để
vào với hội làng hội nước. Cây cau thẳng, dây trầu mềm, khắp xứ sở Việt Nam đâu mà không thấy, hàng cau phía trước bên bể nước mưa và giàn trầu trong mỗi ngôi nhà nơi thôn dã luôn là biểu hiện của sự thái bình. Trong Nam có 18 thôn vườn trầu, tổng diện tích hàng trăm cây số vuông. Ngoài Bắc, dọc các thôn xóm ven sông Hồng, ngày xưa tới đâu mà chẳng nghe câu hát: "Ru con con ngủ cho rồi Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu. Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu, Mua cau Nam phố, mua trầu chợ Dinh." Và ở miền Trung, đâu đâu cũng thấy thấp thoáng bóng cau bên cạnh bóng dừa và văng vẳng đâu đây câu hát: "Bồng em mà bỏ vô nôi, Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu, Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu, Mua cau Bát Nhị, mua trầu Hội An." Sách xưa thì ghi: "Ăn trầu làm thơm miệng, hạ khí, tiêu cơm" những vật dụng cho việc ăn trầu hôm nay vẫn thấy, đó là cơi trầu (gắn liền với câu: đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu), là dao bổ cau (gắn liền với câu: mắt sắc dao cau), là chiếc âu trầu, là bình vôi, chìa vôi, ống vôi, là khăn, là túi đựng trầu. Nhà giàu còn đựng được tráp trầu, khay trầu sơn màu khảm trai rất đẹp. Như
thế đủ thấy trầu cau gắn liền với sinh hoạt của nông thôn ta
chặt chẽ và lâu đời biết dường nào. Trầu dùng tiếp khách
hàng ngày, như bát chè xanh, như điếu thuốc lào. Trầu làm
sính lễ trong đám hỏi, trầu thay cho thiệp báo, thiệp mời
trước ngày hôn lễ, trầu có mặt trong mỗi cuộc vui buồn của
làng quê, Xuân đến, Tết về, trầu cau còn là quà tặng. Thơ
Nguyễn Khuyến có câu: "Kiếm một cơi trầu sang biếu cụ Xin đôi câu đối để mừng ông." Hơn thế, trầu cau còn là đồ cúng lễ, ngày giỗ. Dân gian có câu "Sửa cơi trầu, đĩa hoa dâng cụ" để tưởng nhớ tổ tiên, để ghi nhớ công ơn nuôi nấng sinh thành của bậc tiền nhân. Trầu cau gần gũi với sinh hoạt của người Việt như thế nên hiển nhiên nó cũng trở thành hình tượng của văn học dân gian. Sự tích Trầu Cau là một câu chuyện bi ai mà thắm đượm nghĩa tình với hình tượng khó quên cây cau-người chồng, dây trầu-người vợ và hòn đá (vôi)-đứa em trai chồng... Rồi
đến cả trăm câu ví, câu đố, ca dao, ngạn ngữ, tục ngữ dân
gian mà tập trung nhất là những bài, những câu của trai gái
nói, hát với nhau gọi là những câu hát trao duyên, câu hát
mời trầu. Hát mời trầu có tới hàng trăm câu hát khác nhau
nhưng câu nào cũng nói tới trầu, cau, vôi, vỏ hoặc nói về
cái tài của người bổ cau, têm trầu. Câu hát mời trầu cũng là
câu hát bày tỏ lòng mình. Bên cạnh những "vôi nồng", "miếng
trầu cánh phượng", "cau bổ bốn bổ ba", là những "trầu giải
yếm giải khăn", "trầu loan, trầu phượng, trầu tôi trầu mình"
là những "trầu tính trầu tình", "trầu nhân, trầu ngãi"... để
rồi thành "trầu mình lấy ta", "trầu nên vợ nên chồng". Tục
ăn trầu còn gắn với phong tục nhuộm răng đen để có những má
hồng răng đen tiêu biểu của cái đẹp con gái thuở nào. Người
thôn nữ má hồng răng đen, một thuở đã trở thành hình ảnh làm
si mê biết bao chàng trai, như câu ca xưa:"Mình về mình nhớ ta chăng Ta về ta nhớ hàm răng mình cười Năm quan mua lấy miệng cười Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen." |