Khu di tích Ðền Hùng        Back Mục Lục VIỆTNAM QUÊ HƯƠNG TÔI

GAMES     ABOUT     KIENTRUC     THƠ & TẾU     QUÊ HƯƠNG
MÙI VỊ QUÊ TA     ALBUM VIỆT     QUỐC KỲ     MẸ VIỆT     THƠ TÌNH     THƠ HAY


    Khu di tích Ðền Hùng được xây dựng trên núi Hùng, còn gọi là núi Nghĩa Lĩnh. Ðây là ngọn núi cao nhất vùng Phong Châu với độ cao 175m so với mặt nước biển. Khu di tích Ðền Hùng gồm có bốn đền và một lăng Tổ. Cổng đền xây từ năm 1918. Từ cổng đền đến đền Thượng có 525 bậc thềm với ba khu vực: đền Hạ và chùa, đền Trung, đền Thượng và lăng Tổ.
    Ðền Hạ có từ khoảng thế kỷ 17, được xây hai lớp theo kiểu chữ nhị. Tương truyền nơi đây sau khi kết hôn, Lạc Long Quân đã đưa Âu Cơ từ động Lăng Xương (Thanh Thủy) về đến núi Nghĩa Lĩnh. Âu Cơ trở dạ sinh một bọc trăm trứng, sau nở thành một trăm người con trai. Khi các con khôn lớn, 50 người theo cha về vùng biển, 49 người theo mẹ lên ngược Việt Nam vùng núi, người con cả ở lại nối ngôi cha truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương. Cộng đồng người Việt được hình thành, hai tiếng "đồng bào" (cùng bọc) ra đời từ đó.

    Cùng với đền Hạ là chùa Thiên Quang Thiền Tự (nơi có ánh sáng mặt trời rọi xuống) được xây dựng vào thời kỳ nhà Lê, kiến trúc chủ yếu là cột gỗ có đá kê và lợp ngói. Trước kia, chùa được xây theo kiểu chữ công, chung quanh có thành đá ong bao bọc. Chùa thờ Phật theo phái Ðại Thừa. Trước chùa có cây thiên tuế khoảng 700 năm.
    Qua đền Hạ đến đền Trung (Hùng Vương Tổ miếu). Ðền Trung xuất hiện từ thời nhà Trần. Thời Lê bị giặc phương bắc tàn phá. Sau chiến tranh nhân dân địa phương đã xây một ngôi đền khá lớn có thớt đá kê cột gỗ, mái lợp ngói. Cách đây chừng 300 năm, đền Trung được xây dựng lại kiểu chữ nhất, tồn tại đến ngày nay. Tương truyền nơi đây các vua Hùng thường họp bàn việc nước, hay mỗi khi đi săn qua đây thường nổi lửa nướng thịt chia phần cho những người trong cuộc săn. Vào thời Hùng Vương thứ 6, sau khi đánh đuổi được giặc Ân từ phương bắc tràn xuống, vua Hùng thứ 6 muốn chọn con kế vị. Người đã cho gọi 18 người con về núi Nghĩa Lĩnh mở cuộc thi làm cỗ để xem người nào có lòng hiếu thảo với mẹ cha, yêu trọng non nước sẽ truyền ngôi cho. Lang Liêu là người con út thương dân, yêu lao động, hiếu thảo đã sáng tạo làm ra hai thứ bánh tượng trưng cho trời và đất (bánh chưng và bánh dày) dâng cha. Vua cha khen và nhường ngôi cho con út Lang Liêu là Hùng Vương thứ 7.
    Qua đền Trung đến đền Thượng và lăng Tổ. Ðền Thượng còn có tên Kính Thiên Lĩnh Ðiện (đền thờ trời) được xây vào thế kỷ 15. Trong dịp đại trùng tu từ năm 1914 đến 1922. Vua Khải Ðịnh đã xuất tiền và cử quan về giám sát việc xây lại đền Thượng. Nơi đây, Vua Hùng thường cùng các Lạc hầu, Lạc tướng tiến hành những nghi lễ cầu cúng, tế trời đất, mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt để muôn dân được ấm no.
   Cạnh đền Thượng là ngôi mộ Tổ Hùng Vương trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh đặt theo hướng chếch đông tây (hướng mặt trời mọc và lặn). Có truyền thuyết nói rằng, mộ Tổ của Vua Hùng thứ nhất chôn tại đây. Cũng có truyền thuyết cho rằng, đó là mộ của Vua Hùng thứ 6 (Hùng Hoa Vương, húy là Pháp Hải).
    Xưa kia, việc cúng tổ vào ngày 12-3 âm lịch hằng năm. Cuốn Ngọc Phả Hùng Vương được chép vào thời Hồng Ðức hậu Lê có đoạn viết: "Từ thời nhà Ðinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần rồi đến triều đại ta bây giờ là Hồng Ðức hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa (Cổ Tích). Nơi đây nhân dân toàn quốc đều đến lễ bái để tưởng nhớ công lao của Ðấng Thánh Tổ xưa". Ðến thời nhà Nguyễn định ngày giỗ tổ là ngày 10-3 âm lịch hằng năm.
    Mộ Tổ xưa được xây đơn giản, chỉ là mộ đất có mái che. Tới năm 1874, mộ được xây dựng như kiểu dáng ngày nay.
    Cuối cùng là đền Giếng nằm dưới chân núi Hùng gồm ba lớp nhà và hai nhà oản hai bên. Ðền được xây khoảng thế kỷ 18. Tương truyền, khi theo cha đi kinh lý qua vùng này, hai nàng Tiên Dung và Ngọc Hoa, con gái Vua Hùng Vương thứ 18, thường đến đây soi gương chải tóc.
    Theo truyền thuyết nàng Tiên Dung xinh đẹp đến tuổi trăng rằm có nhiều người đến cầu hôn. Nàng không muốn lấy chồng để được thường xuyên đi du ngoạn. Một lần Tiên Dung bơi dọc sông Hồng đến vùng Dạ Trạch (Khoái Châu - Hưng Yên). Tiên Dung nghỉ, tắm trên bãi cát không ngờ gặp Chử Ðồng Tử, chàng trai nghèo hiếu thảo đã nên duyên. Nàng theo chồng về Dạ Trạch khẩn hoang, dạy dân trồng lúa.
    Còn Ngọc Hoa xinh đẹp, vua cha cho dựng lầu kén rể. Hai chàng trai tài giỏi Sơn Tinh và Thủy Tinh cùng đến cầu hôn, thi tài. Sơn Tinh thắng cuộc lấy được nàng Ngọc Hoa. Hai vợ chồng về vùng núi Tản, quê Sơn Tinh, cùng dân làng trị thủy, trồng lúa nước. Thủy Tinh thua cuộc ôm hận, cứ đến tháng 6, tháng 7 âm lịch lại dâng nước làm lụt lội.
Quỳnh Cư  (Viện Sử học)
   Back Mục Lục VIỆTNAM QUÊ HƯƠNG TÔI

GAMES     ABOUT     KIENTRUC     THƠ & TẾU     QUÊ HƯƠNG
MÙI VỊ QUÊ TA     ALBUM VIỆT     QUỐC KỲ     MẸ VIỆT     THƠ TÌNH     THƠ HAY